Phân định tài sản chung, tài sản riêng khi ly hôn

phan-dinh-tai-sanĐể có cơ sở nhận định đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài được theo quy định tại khoản 1, Điều 89 Luật Hôn nhân và Gia đình, Tòa án phải căn cứ vào tình trạng hiện tại của vợ chồng ông đã đến mức trầm trọng chưa.

Nếu thực tế cho thấy vợ chồng ông đã được gia đình, cơ quan, đoàn thể nhắc nhở, hoà giải nhiều lần, nhưng vẫn tiếp tục sống ly thân, bỏ mặc nhau, hoặc vẫn tiếp tục có hành vi ngược đãi hành hạ, xúc phạm nhau, hoặc vẫn tiếp tục có quan hệ ngoại tình thì có căn cứ để nhận định rằng đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài được, Tòa án sẽ quyết định cho ly hôn.

 

Tài sản riêng của bên nào thì thuộc quyền sở hữu của bên đó

Theo quy định tại khoản 1, Điều 95 Luật Hôn nhân và Gia đình thì việc chia tài sản khi ly hôn do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì yêu cầu Toà án giải quyết. Tài sản riêng của bên nào thì thuộc quyền sở hữu của bên đó.

Bên cạnh đó, tại tiểu mục 1,1, Mục I, phần III, Nghị quyết 02/2004/HĐTP-TANDTC ngày 10/8/2004 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình thì nhà ở được nhà nước cấp cho người có công với cách mạng, trong thời kỳ hôn nhân, được xác định là tài sản riêng của người được cấp.

Việc giải quyết quyền lợi của vợ chồng khi ly hôn đối với nhà ở thuộc sở hữu riêng của một bên, được quy định tại Điều 30 Nghị định 70/2001/NĐ-CP ngày 3/10/2001 như sau:

"Trong trường hợp nhà ở thuộc sở hữu riêng của một bên vợ hoặc chồng đã đưa vào sử dụng chung, thì khi ly hôn, nhà ở đó vẫn thuộc sở hữu riêng của chủ sở hữu nhà, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác. Bên vợ hoặc chồng sở hữu nhà có nghĩa vụ hỗ trợ cho bên kia tìm chỗ ở mới, nếu bên kia có khó khăn và không thể tự tìm được chỗ ở mới. Bên chưa có chỗ ở được lưu cư trong thời hạn 6 tháng để tìm chỗ ở khác."

Không thừa nhận con chung phải có chứng cứ

Theo quy định tại Điều 63, Điều 64 Luật Hôn nhân và Gia đình, con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ đó là con chung của vợ chồng.

Trong trường hợp cha, mẹ không thừa nhận con thì phải có chứng cứ và phải được Toà án xác định.

Theo đó, khi có người yêu cầu Toà án xác định một người nào đó là con của họ hay không phải là con của họ thì phải có chứng cứ; do đó về nguyên tắc người có yêu cầu phải cung cấp chứng cứ. Trong trường hợp cần thiết thì phải giám định gien. Người có yêu cầu giám định gien phải nộp lệ phí giám định gien.

Trường hợp ông Nhơn, ông cần cung cấp cho Tòa án các tài liệu chứng minh căn hộ gia đình ông đang ở là do Nhà nước cấp cho ông theo chế độ ưu đãi người có công với cách mạng và ông chưa nhập tài sản này vào khối tài sản chung của vợ chồng.

Việc không thừa nhận trẻ do vợ sinh ra là con mình, ông Nhơn cũng phải cung cấp chứng cứ hoặc yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định gien AND của ông và của trẻ để xác định ông có phải là bố của trẻ do vợ ông sinh ra không.

 

Hãy nhấc máy gọi số 0908 472 677 để được sử dụng dịch vụ tư vấn pháp luật tốt nhất.

Công ty chúng tôi luôn có đội ngũ luật sư giỏi, uy tín, và có tính chuyên nghiệp, tính quốc tế cao. Để đáp ứng đầy đủ yêu cầu của khách hàng.

“ Thành công của khách hàng là thành công của Trí Tuệ Luật